Thừa kế không có di chúc đối với tài sản của hộ gia đình

Thừa kế không có di chúc đối với tài sản của hộ gia đình

Luật sư Nguyễn Thanh Tuân

Thừa kế không có di chúc đối với tài sản của hộ gia đình

Thừa kế không có di chúc đối với tài sản của hộ gia đình
Thừa kế không có di chúc đối với tài sản của hộ gia đình
Thừa kế không có di chúc đối với tài sản của hộ gia đình

CÂU HỎI

Em chào Luật sư Tuân. Em muốn hỏi luật sư sự việc như thế này: gia đình của người em (Chị A) em có 1 lô đất cha mẹ đứng tên khi người mẹ qua đời người cha đòi bán lô đất đó thì người con có quyền làm giấy để giữ lô đất đó không cho bán được không vậy luật sư. Em xin cảm ơn.

Nguyễn Minh – Khánh Hòa.

TRẢ LỜI

Cám ơn bạn đã tin tưởng Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh Tuân. Trên cơ sở sự trình bày chưa đầy đủ thông tin của bạn, chúng tôi có ý kiến sơ bộ cho hai trường hợp giả định như sau:

TRƯỜNG HỢP THỨ NHẤT (Nếu lô đất do cả cha và mẹ chị A đứng tên):

Trong trường hợp này, Quyền sử dụng đất thuộc về cả ba và mẹ chị A. Khi người mẹ qua đời không để lại di chúc, thì di sản của người chết để lại, bao gồm cả Quyền sử dụng đất của 50% diện tích (hoặc giá trị Quyền sử dụng đất) của lô đất, sẽ được chia theo quy định về Thừa kế theo pháp luật, theo quy định tại Khoản 1 Điều 675 Bộ luật dân sự 2005. Trong cách chia thừa kế này, phần Quyền sử dụng đất là di sản thừa kế, theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự 2005, sẽ được chia đều cho tất cả các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Và 50% diện tích, hay giá trị quyền sử dụng đất, còn lại của lô đất sẽ thuộc về cha của chị A, nên ông chỉ có quyền “bán” ( chuyển nhượng) quyền sử dụng phần đất của ông.

Kết quả hình ảnh cho Thừa kế không có di chúc đối với tài sản của hộ gia đình

Trong trường hợp có tranh chấp về việc định đoạt hay chia di sản thừa kế giữa các đồng thừa kế, thì bất kỳ người nào trong số đó cũng có quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp.

TRƯỜNG HỢP THỨ HAI (Nếu lô đất được cấp cho hộ gia đình và chị A cũng có tên trong hộ khẩu của căn nhà tọa lạc trên lô đất đang có tranh chấp).

Theo quy định tại các Điều 108 và 109 của Bộ Luật Dân sự hiện hành (2005), Quyền sử dụng đất là một trong các tài sản chung của cả hộ gia đình và việc định đoạt tài sản đó phải được tất cả các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên trong hộ gia đình đồng ý.

Như vậy, khi Quyền sử dụng đất được cấp cho cả hộ gia đình chị A, thì sau khi mẹ chị qua đời, Quyền sử dụng đất đối với cả lô đất vẫn thuộc về cả gia đình, mà không phát sinh thừa kế đối với Quyền sử dụng đất đó.

Việc xác định những người có quyền đối với quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình được căn cứ vào sổ hộ khẩu tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất. Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”

Như vậy, trong trường hợp này, việc định đoạt quyền sử dụng đất là tài sản của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý. Nếu chị A có tên trong sổ hộ khẩu vào thời điểm được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ba mẹ chị A, và ở thời điểm hiện tại chị A đã đủ 15 tuổi (đủ năng lực hành vi dân sự) thì việc chuyển nhượng Quyền sử dụng lô đất cũng phải được sự đồng ý của chị A.

Việc đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình được thể hiện bằng việc tất cả các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên trong hộ gia đình cùng có mặt và ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm công chứng hợp đồng hoặc có văn bản ủy quyền cho một trong số các thành viên còn lại của hộ gia đình tiến hành việc chuyển nhượng. Nếu chị A không đồng ý thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ba chị A không hợp pháp, trường hợp có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền quyền sử dụng đất thì hợp đồng này có thể bị coi là vô hiệu ngay từ khi ký kết.

Trân trọng,

Ls. Nguyễn Thanh Tuân.