Công dân nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam; công dân Việt Nam phạm tội trên lãnh thổ nước ngoài, giải quyết như thế nào?

Luật sư Nguyễn Thanh Tuân

Luật sư Nguyễn Thanh Tuân

Công dân nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam; công dân Việt Nam phạm tội trên lãnh thổ nước n

Công dân nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam; công dân Việt Nam phạm tội trên lãnh thổ nước n
Công dân nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam; công dân Việt Nam phạm tội trên lãnh thổ nước n
Công dân nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam; công dân Việt Nam phạm tội trên lãnh thổ nước ngoài, giải quyết như thế nào?

M 30 tuổi, công dân Lào không có việc làm ổn định, cùng với B, công dân Việt Nam là đồng bọn trong một băng nhóm chuyên mua, bán ma túy xuyên quốc gia. Cả hai đều đã trực tiếp tham gia nhiều vụ vận chuyển, mua bán ma túy trái phép, với số lượng lớn, từ Lào sang Việt Nam. M bị bắt quả tang trong một lần giao hàng heroin có khối lượng 300gr tại Hà Nội tháng 9/2014, còn B thì cũng bị bắt quả tang trong một lần nhận ma túy cùng loại, với khối lượng (chẵn) 300gr, tại Xavanakhet – Lào vào tháng 8/2014. 

Hỏi:

  1. M có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán ma túy trái phép theo Bộ luật Hình sự của Việt Nam hay không ? Nếu có, M có thể bị dẫn độ về Lào hay không ?
  1. B liệu có phải chịu trách nhiệm hình sự lần lượt theo Luật hình sự của cả hai nước Lào và Việt Nam (bị xét xử, kết án và thi hành án tù có thời hạn ở Lào xong, khi bị trục xuất về Việt Nam lại bị truy tố, kết án tiếp) về hành vi “Mua bán ma túy trái phép” theo Bộ Luật Hình sự của Việt Nam, hay không ?

 

Trả lời có tính chất tham khảo

Mỗi quốc gia độc lập và có chủ quyền đều có hệ thống luật pháp riêng của mình, bao gồm cả Luật Hình sự. Do sự khác nhau về thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa, phong tục, tôn giáo và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đối với cùng một hành vi phạm tội, mỗi quốc gia có sự đánh giá mức độ nguy hiểm, hình phạt đối với hành vi (tội phạm) đó khác nhau. Chẳng hạn buôn bán ma túy (heroin) bất hợp pháp từ 100gr trở lên, theo luật ở một số quốc gia này (Singapore, Viêt Nam) có thể là hành vi phạm tội có thể phải chịu hình phạt đến mức tù chung thân hay tử hình; trong khi ở các quốc gia khác (Úc, Lào…), đối với mức độ vi phạm như vậy hình phạt lại lại chỉ là một số năm tù.  Ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, hiện không còn áp dụng hình phạt tử hình.

Về mức độ chế tài: Chính sách Hình sự của Việt Nam chủ trương xử lý rất nghiêm khắc đối với hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Điểm (b) khoản 4 Điều 194 (“Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy”) của Bộ Luật Hình sự Việt Nam 1999 được sửa đổi bổ sung 2009, khi số lượng heroin trong một vụ tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép đạt từ 100gr trở lên, thì hình phạt có thể là tù 20 năm, chung thân hoặc tử hình. Trong khi đó, với hành vi “Buôn bán ma túy trái phép” heroin ở trên lãnh thổ Lào trong một vụ, với khối lượng từ 100gr đến 300 gr, thì theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 146 của Luật Hình sự sửa đổi ngày 09/11/2005 của Lào, sẽ chỉ phải chịu mức án tối đa 15 năm tù và nộp phạt tối đa 500.000.000 Kip (đơn vị tiền tệ của Lào).    

Về Thẩm quyền tài phán (xét xử) hình sự đối với hành vi phạm tội của công dân nước ngoài: Theo nguyên tắc chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế, hầu như mỗi quốc gia đều dành cho mình quyền xử lý về mặt hình sự theo pháp luật của nước mình đối với hành vi phạm tội của công dân nước khác trong phạm vi lãnh thổ của nước mình.

Đối với các trường hợp công dân nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt nam, mà không phải là người thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, hay có thân phận ngoại giao; thì họ cũng phải chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ Luật Hình sự Việt nam, theo quy định tại Điều 5, Chương II của Bộ Luật Hình sự hiện hành (Ban hành năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009) của Việt Nam. Về vấn đề này,  Điều  3 của Luật Hình sự 2005 của Lào cũng có quy định tương tự: Công dân nước ngoài phạm tội ở Lào,  mà không phải là người có thân phận ngoại giao hay đối tượng được miễn trừ tư pháp theo các Điều ước quốc tế mà Lào là thành viên, CÓ THỂ bị xét xử ở Lào, theo Pháp luật của nước CHDNND Lào. 

Về việc một quốc gia xử lý hình sự đối với công dân nước mình mà phạm tội ở nước ngoài: Pháp luật của mỗi nước cũng có quy định về (khả năng) thực hiện việc xử lý hình sự theo luật của nước mình, đối với hành vi phạm tội của công dân nước mình trên lãnh thổ nước khác.  Khoản 1 Điều 6, Chương II của Bộ Luật Hình sự hiện hành của Việt Nam có quy định: “Công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam CÓ THỂ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này”. Tương tự, Điều 4 Luật hình sự 2005 của Lào cũng có quy định việc chịu trách nhiệm hình sự của với công dân Lào có hành vi phạm tội ở nước ngoài, nhưng chỉ trong trường hợp hành vi đó cũng được coi là tội phạm theo Luật hình sự của Lào

Như vậy, mỗi quốc gia, trong khi theo đuổi nguyên tắc chủ quyền quốc gia, dành cho mình quyền ưu tiên xét xử hành vi phạm tội của công dân nước ngoài trên lãnh thổ của mình, cũng có khuynh hướng muốn xét xử và trừng phạt theo Luật hình sự của chính nước mình đối với các hành vi phạm tội của công dân nước mình ở nước ngoài. Nếu quốc gia nào cũng khư khư giữ lấy nguyên tắc “vơ vào” của mình khi xử lý tội phạm, thì rất nhiều nhiều khi sẽ xảy ra “xung đột pháp luật” (Conflict of Law) liên quan đến quyền tài phán hình sự giữa các quốc gia. Giải pháp phổ biến trên thế giới là giải quyết qua đường ngoại giao, hoặc thực hiện theo quy định của các Điều ước quốc tế song phương, đa phương về Hỗ trợ Tư pháp (Legal Assistance), bao gồm cả việc Dẫn độ (Extradition)… 

Ngày 06/07/1998, CHXHCN Việt Nam và CHDCND Lào đã ký kết Hiệp định Tương trợ Tư pháp về Dân sự và Hình sự.

Sau đây chúng ta sẽ xem xét các Câu hỏi số 1, ứng với trường hợp của M, công dân Lào phạm tội ở Việt Nam; và Câu hỏi số 2, trường hợp của B, công dân Việt Nam phạm tội ở Lào, trên cơ sở Pháp luật Hình sự của cả Việt Nam và Lào và Hiệp định Tương trợ Tư pháp giữa hai nước.

  1. Trường hợp của M, công dân Lào, phạm tội ở Việt Nam:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của Bộ luật Hình sự 15/1999/QH10 và Luật số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự của Việt Nam, thì M là công dân nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, trong khi không phải là đối tượng đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết, hoặc tham gia, hoặc theo tập quán quốc tế (khoản 2 Điều 6 BLHS Việt Nam), nên Có Thể bị xử lý theo Luật hình sự của Việt Nam. Có hai khả năng cho vấn đề xác định Quyền tài phán hình sự đối với M trong trường hợp này:

         - Khả năng thứ Nhất:

M CÓ THỂ bị dẫn độ về Lào để được xét xử theo Luật Hình sự của Lào, nếu phía Việt Nam đồng ý dẫn độ. Theo quy định tại Điều 59 và Điều 60 của Hiệp định Tương trợ Tư pháp về Dân sự và Hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, thì: Một trong hai nước ký kết Hiệp định CÓ THỂ yêu cầu Nước kia dẫn độ tội phạm là công dân nước mình phạm tội mà đang ở nước kia về nước mình để xét xử hoặc thi hành bản án, quyết định hình sự (Điều 59), Nếu hành vi phạm pháp là hành vi mà theo pháp luật của các Nước ký kết thì có thể bị kết án tù một năm tù trở lên, hoặc nặng hơn (Điều 60); hoặc

         - Khả năng thứ Hai:

M bị xét xử tại Việt Nam theo Luật Hình sự của Việt Nam. Theo Điều 61 của Hiệp định Tương trợ Tư pháp giữa Việt Nam và Lào, một Nước tham gia ký kết khi được yêu cầu dẫn độ CÓ THỂ từ chối dẫn độ, để xét xử hành vi phạm tội của công dân của Nước ký kết kia (Nước yêu cầu) tại tòa án, và theo pháp luật, của nước mình, trong một số trường hợp: (i) Người bị dẫn độ là công dân của chính nước được yêu cầu dẫn độ; hoặc (ii) Người đó là cá nhân đã có hành vi phạm pháp trong cùng một vụ án mà Nước ký kết được yêu cầu đã kết án hoặc đã có bản án hình sự có hiệu lực pháp luật hoặc đã có lệnh đình chỉ xét xử vụ án; (iii) Nước ký kết được yêu cầu xét theo pháp luật của nước mình thấy hành vi phạm pháp làm căn cứ dẫn độ đã hết thời hiệu tố tụng hình sự hoặc hết thời hiệu thi hành án; (iv) Nước ký kết được yêu cầu xét theo pháp luật của nước mình thấy không thể chấp nhận dẫn độ người phạm tội vì lý do đặc biệt.

  1. Trường hợp của B, công dân Việt Nam, phạm tội ở Lào:

          - Về việc xác định Quyền tài phán Hình sự của các Nước ký kết Hiệp định Tương trợ Tư pháp đối với B:

Theo các quy định có liên quan về khả năng chịu trách nhiệm Hình sự quy định tại khoản 1, Điều 6 của Bộ luật Hình sự 15/1999/QH10 và Luật số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự của Việt Nam, thì B, công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, CÓ THỂ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 3 của Luật Hình sự (2005) của Lào, B công dân nước ngoài phạm tội ở Lào, nhưng cũng CÓ THỂ bị dẫn độ về Việt Nam, NẾU Việt Nam có yêu cầu dẫn độ, đồng thời cũng NẾU Lào không từ chối việc dẫn độ.

          - Về khả năng B phải chịu lần lượt sự xét xử, và theo pháp luật của cả hai nước:

Trong trường hợp Việt Nam không yêu cầu Lào dẫn độ B về Việt Nam hoặc Lào từ chối dẫn độ B về Việt Nam để bị xét xử tại Việt Nam theo Pháp luật của Việt Nam, thì B đương nhiên bị xét xử, kết án và thi hành án tại Lào, theo Pháp luật của Lào. Xét mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội tại Lào của B, theo Pháp luật của Lào, B có thể chỉ phải chịu mức án tối đa là 15 năm tù. Vấn đề đặt ra, là sau khi B đã thi hành xong án phạt tù ở Lào và bị trục xuất về Việt Nam, thì liệu B có thể cũng sẽ lại phải bị truy tố, xét xử về hành vi “Buôn bán trái phép chất ma túy” theo điểm (b) khoản 4 Điều 194 Bộ Luật Hình sự Việt Nam, hay không ?

TRẢ LỜI:

Khoản 3 Điều 31 Chương II, Hiến pháp Việt Nam (2013) đã quy định rõ: “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm”.

Như vậy, Câu trả lời cho Câu hỏi số 2 là: Căn cứ theo quy định tương ứng của Hiến pháp Việt Nam, NẾU B đã bị xét xử, bị kết án và đã thi hành xong án phạt tù, ở Lào và theo pháp luật của Lào, thì, theo quan điểm của chúng tôi, khi B bị trục xuất về Việt Nam sau đó, B sẽ KHÔNG THỂ bị xét xử, kết án và phải thi hành án theo quy định tương ứng đối với tội danh nói trên của Pháp luật  Việt Nam. 

Các văn bản liên quan:

Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam;

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 và Luật Hình sự sửa đổi (2009) của Việt Nam;

Luật Hình sự 2005 của CHDCND Lào;

Hiệp định Tương trợ Tư pháp về Dân sự, Hình sự (1998) giữa CHXHCN Việt Nam và CHDCND Lào. 

Trả lời bởi: VPLS NGUYỄN THANH TUÂN

 

N.T.TUAN LAWYER & ASSOCIATES

105D (1st Fl) Ngo Quyen Str., D. 5

Ho Chi Minh City - Vietnam

Tel:. +(84 8) 38591237- 38549991 

Hot line: 0913 903 900

E-mail: Tuan.nguyen@nttuanlaw.com.vn

Website: nttuanlaw.com.vn